Email: infos@asiatech.com.vn
Hotline: +84 903 000 650
 

CÔNG TY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ & MÔI TRƯỜNG Á ĐÔNG – ASIATECH GROUP

Xây dựng báo cáo quốc gia thực hiện công ước đa dạng sinh học lần thứ 6

Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn, Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học cho biết: Năm 1994, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên tham gia Công ước đa dạng sinh học và đã xây dựng các kế hoạch hành động. Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được chính thức thông qua năm 2013.
 
Hệ thống các cơ quan quản lý, khung chính sách về đa dạng sinh học, hệ thống các khu bảo tồn được thành lập, các loài động thực vật nguy cấp quý, hiếm được bảo vệ bằng pháp luật và thông qua các chương trình hành động, tiếp thu và đẩy mạnh thực hiện các vấn đề mới của bảo tồn đa dạng sinh học như an toàn sinh học, tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích ừ việc sử dụng nguồn gen… Nhận thức về tầm quan trọng, vai trò của đa dạng sinh học đối với cuộc sống và phát triển bền vững đất nước ngày càng được nâng cao. Cộng đồng, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức khoa học ngày càng phát huy vai trò, sự tham gia bảo tồn đa dạng sinh học. 
 
Báo cáo cung cấp thông tin về các biện pháp được tiến hành để thực hiện Công ước đa dạng sinh học, tính hiệu quả của các biện pháp ở cấp quốc gia, được phản ánh trong kế hoạch hành động và chiến lược đa dạng sinh học quốc gia.
 
Khác với những báo cáo trước, báo cáo quốc gia lần thứ 6 cần bổ sung nội dung về dữ liệu không gian và phù hợp với kế hoạch chiến lược đa dạng sinh học 2011-2020 và mục tiêu bảo vệ các loài trên thế giới. Các dữ liệu cần bổ sung cho báo cáo lần 6 gồm: Bản đồ các vùng sinh thái trên đất liền và biển; bản đồ loài nguy cấp, bản đồ phân bố cây trồng, vật nuôi bản địa quý, hiếm, các cơ sở bảo tồn; bản đồ hành lang đa dạng sinh học, các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao, sự đóng góp của các dân tộc bản địa và cộng đồng địa phương…
 
Theo Cục Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, dữ liệu đã thu thập đa dạng, phong phú gồm nhiều lĩnh vực chuyên môn và các sản phẩm khác nhau nên cần cân nhắc, lựa chọn những dữ liệu phù hợp. Nhiều dữ liệu không gian không thu thập được dữ liệu gốc nên gặp khó khăn trong việc chỉnh sửa, cập nhật. Một số lớp dữ liệu không gian trên cổng thông tin UNB Lab khái quát ở cấp độ toàn cầu nên còn hạn chế về độ phân giải không gian và độ chi tiết thông tin. Bởi vậy, các cơ quan quản lý, cơ quan điều phối cần hỗ trợ để thu thập các dữ liệu không gian phục vụ xây dựng báo cáo cũng như cung cấp cho các chuyên gia quốc tế thông qua cổng thông tin UNB Lab để phân tích và xử lý.
 
Minh Nguyệt